HAI VẤN ĐỀ LỚN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Vũ Hoàng

Nhập siêu tăng mạnh và lạm phát là hai yếu tố nền tảng trong nền kinh tế Việt Nam đang được hầu hết các chuyên gia trong nước quan tâm và diễn giải dưới nhiều góc độ khác nhau.

Chính phủ Việt Nam hôm 24-2-2011 loan báo quyết định tăng giá xăng dầu thêm 2.900/lít. Hình: đường phố Việt Nam giờ cao điểm.

Nhập siêu tăng mạnh

Chưa bao giờ trên các mặt báo kinh tế Việt Nam mà vấn đề nhập siêu tăng mạnh và lạm phát được nhiều chuyên viên kinh tế quan tâm nhiều đến như vậy. Nhập siêu tăng mạnh làm trầm trọng thêm những vấn đề kinh tế vĩ mô như điều chỉnh tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại hối, ảnh hưởng đến chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam. Trong khi đó, chỉ số giá cả tiêu dùng leo thang lại trực tiếp tác động đến người tiêu dùng, mà nhất là những người nghèo và tầng lớp lao động có thu nhập thấp.

Trong năm 2010, Việt Nam nhập siêu khoảng 12 tỷ đô la. Đóng góp vào lượng nhập siêu này, Việt Nam nhập tới trên 20 tỷ đô la hàng hoá từ Trung Quốc, trong khi Việt Nam dù đã cố gắng hết sức cũng chỉ xuất sang được nước này chừng hơn 6 tỷ đô la.

Đáng lưu ý là trong năm vừa qua, Việt Nam nhập khẩu hàng xa xỉ lên đến hơn 10 tỷ đô la, dù chủ trương nhập siêu đã được hạn chế mạnh mẽ bằng các biện pháp như hạn chế cấp ngoại tệ nhập khẩu hàng xa xỉ hay tăng thuế tiêu thụ đặc biệt.

Hồi cuối năm ngoái, công ty Moody’s đã hạ mức tín dụng ngoại tệ dài hạn của Việt Nam từ Ba3 xuống còn B1, với triển vọng tiêu cực. Ông Thomas Byrne, Phó tổng giám đốc Moody’s ở Singapore cho biết rằng “mối lo ngại chính là mối rủi ro về một vụ khủng hoảng cán cân thanh toán,” mà theo nhận định của công ty ông là đã tăng cao ở Việt Nam vì thâm hụt cán cân thanh toán trong 3 năm qua, và sự sút giảm của mức dự trữ ngoại hối.

Theo lý giải của ông Bùi Trinh, vụ Tài Khoản Quốc Gia vì sao Việt Nam lại có mức nhập siêu cao đến như vậy là do: Cơ cấu kinh tế. Khi chọn ngành sản xuất, cần phải chú ý đến 2 yếu tố là “chỉ số lan tỏa nội địa” và “chỉ số kích thích nhập khẩu.” Ở Việt Nam, một số ngành có chỉ số lan toả nội địa thấp, trong khi chỉ số kích thích nhập khẩu lại tăng cao bất thường.

Ngoài ra, theo ông Trinh thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều ngành nghề tại Việt Nam còn yếu dẫn đến Việt Nam phải nhập khẩu để bù lấp cho những khoản thiếu hụt này.

Diễn giải về hiện trạng cán cân thanh toán Việt Nam, ông Bùi Kiến Thành, một chuyên gia kinh tế độc lập tại Việt Nam nhận xét:

“Nếu chúng ta có thể làm được vấn đề giảm thiểu cán cân thương mại bị thâm hụt thì mình tạo được lòng tin cho những người nghĩ đến đồng bạc Việt Nam. Nếu không làm được vấn đề giảm thiểu cán cân thương mại, thì sẽ kéo dài được bao nhiêu lâu như thế.

Dự trữ ngoại hối của chúng ta hai mươi mấy tỷ năm rồi xuống còn mười mấy tỷ, thì nó sẽ đi đến đâu. Dầu sao đi nữa trong một đất nước muốn phát triển thì cũng phải tổ chức làm sao cho vấn đề ngoại thương tốt, cán cân thương mại được cân bằng và xuất siêu như một số nước khác.”

Chỉ số giá tiêu dùng

000_Hkg4414023-200.jpg
Một người bán hàng rong ở Hà Nội. AFP photo

Thông thường khi cán cân thanh toán thâm hụt, các nhà lập chính sách thường hay sử dụng tỷ giá hối đoái làm phương tiện cứu chữa khoản chênh lệch xuất – nhập khẩu. Vì khi đồng Việt Nam giảm giá trị, thì các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam sẽ rẻ tương đối so với các nước khác, và điều đó sẽ khuyến khích được xuất khẩu cho Việt Nam.

Tuy nhiên, theo ông Bùi Kiến Thành thì việc giảm giá đồng bạc nhằm khuyến khích xuất khẩu cũng có mặt trái của nó, vì dĩ nhiên khi xuất khẩu thuận lợi, thì ngược lại nhập khẩu lại khó khăn. Ông Thành cho biết:

“Còn về vấn đề xuất khẩu, dùng tỷ giá làm biện pháp khuyến khích xuất khẩu thì chỉ hợp lý đến mức nào thôi chứ không phải ở Việt Nam áp dụng được các nước khác. Khi đồng bạc rẻ xuống, người ta xuất khẩu được nhiều hàng hoá có hàm lượng nội địa nhiều, còn Việt Nam nhập khẩu vào 80-90% nguyên liệu để mà sản xuất hàng hoá xuất khẩu, thì khi tỷ giá lên, giá thành lên thì mình chưa chắc xuất khẩu tốt hơn mà ngược lại làm tăng chỉ số giá tiêu dùng trong nước lên. Từ đó tạo ra những khó khăn khác.”

Vấn đề bất ổn thứ hai, mà hầu như bất cứ một tờ báo kinh tế nào cũng đề cập đến, đó là việc tăng chỉ số giá tiêu dùng hay còn gọi là lạm phát.
Trong kỳ họp quốc hội cuối năm 2010, Chính phủ ước tính chỉ số giá tiêu dùng chỉ dao động khoảng 7-8% nhưng trên thực tế, con số này của năm 2010 là 11,75%.

Theo lời Phó Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Đức Kiên thì khi tăng trưởng kinh tế chỉ đạt chưa đến 7% mà “mức tăng giá cao gần gấp đôi 12% mức tăng trưởng kinh tế là vấn đề rất đáng phê bình.” Ông Kiên cũng nêu một thí dụ so sánh, nếu ở Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế khoảng 10% thì lạm phát chỉ xấp xỉ 5% còn Việt Nam thì ngược lại.
Vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn khi 2 tháng đầu năm 2011, lạm phát tiếp tục là chủ đề được bàn thảo nhiều, nhất là giá xăng vẫn tiếp tục tăng và giá điện dự kiến sẽ tăng hơn 18% vào ngày 1/3 tới đây.

Ảnh hưởng đời sống người dân

Để tìm hiểu xem mức lạm phát như vậy, sẽ ảnh hưởng đến đời sống người dân thế nào, chúng tôi có nói chuyện với một chuyên viên của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Anh Hải Minh cho biết, mặc dù năm vừa rồi anh cũng được hưởng mức lương tăng thêm do trượt giá, nhưng khoản này không bù nổi mức giá thay đổi đến chóng mặt tại Việt Nam và sau khi cộng mọi chi tiêu, thì gia đình không dư ra một khoản nào cho tiết kiệm:

000_Hkg4197359-250.jpg
Lạm phát tăng cao ảnh hưởng đến đới sống người dân lao động. AFP photo

“Mức lương của tôi có hệ số 3 phảy nhân với mức lương cơ bản khoảng 750,000 thì sẽ rơi vào khoảng độ 2,200,000, tương đương với 100 đô la Mỹ/ 1 tháng. Theo tình hình lạm phát năm vừa rồi, lương công chức cũng được tăng nhưng rất là thấp, so với tình hình chung, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cán bộ như chúng tôi, từ những thứ thiết yếu như điện nước, xăng dầu, điều đó gần như là bất khả kháng và chúng tôi phải chấp nhận trong một điều kiện hoàn cảnh chung của đất nước.”

Tuy nhiên, đối với tầng lớp có thu nhập thấp ở các vùng nông thôn thì lạm phát tác động trực tiếp đến đời sống họ và họ là những nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất. Trong lần trao đổi trước đây với đài chúng tôi, một nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nhận xét về những gì mà mức trượt giá ảnh hưởng đến đời sống, việc làm của anh:

“Vật giá tất cả đều tăng, giá lúa cũng tăng so với năm rồi và các năm trước, nhưng tôi thấy thu nhập của mình vẫn vậy. Bán lúa được nhiều tiền hơn nhưng khi mua lại các thứ cũng cao hơn. Cụ thể phân bón tăng khoảng gần 30%, có một số loại phân tăng trên 30%, thuốc sâu thuốc bảo vệ thực vật cũng tăng từ 20% đến 30%. Cuộc sống bây giờ khó khăn vật giá cái gì cũng lên hết kể cả con cái đi học, tiền học phí tiền mua sách, tất cả mọi thứ linh tinh đều tăng.”

Điều người nông dân này trăn trở cũng là những quan ngại mà chủ nhiệm UB Pháp luật Nguyễn Văn Thuận thừa nhận “xét về chất, về sự thật của mức tăng trưởng, ngoài yếu tố sản xuất kinh doanh tạo ra thì phần lớn lại nằm ở tăng giá, đồng tiền mất giá. Người dân vẫn hỏi là năm nào tăng trưởng cũng cao, con số đẹp nhưng đời sống không tăng kịp so với con số đó.”

Ông Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu Chính sách Kinh tế quốc tế Hội nhập nhận xét về lạm phát tại Việt Nam:

“Ngoài những yếu tố tác động bên ngoài thì lạm phát cao là do ở Việt Nam có những câu chuyện liên quan đến nới lỏng chính sách tiền tệ, nới lỏng chính sách tài khóa và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao. Vì thế những nhóm giải pháp để bình ổn kinh tế vĩ mô và đưa lạm phát xuống, quan trọng nhất là thắt chặt chính sách tiền tệ, thắt chặt chính sách tài khoá và chi tiêu công thì đây là những điều rất cơ bản.”

Các chuyên gia kinh tế cho rằng để có được một mức lạm phát chấp nhận được thì Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các chính sách tiền tệ và tài khoá thắt chặt cũng như có mức kiểm soát mạnh hơn với vấn đề chi tiêu công. Ngay chính nội dung những bài báo được phổ biến tại Việt Nam ít nhiều cũng hy vọng bằng những nỗ lực của những nhà lập chính sách mà những vấn đề đau đầu như nhập siêu và lạm phát được khống chế và thu nhập thực của người dân được đảm bảo, để người dân được hưởng đúng giá trị của đồng tiền mà họ kiếm được.

Theo RFA

Chính phủ cần làm gì để kiềm chế lạm phát?

Lạm phát đang ngày một rõ nét hơn tại Việt Nam mặc dù chính phủ cố đưa ra biện pháp thắt chặt tiền tệ cũng như kiểm soát chi tiêu ngân sách để kềm chế lạm phát.

Thế nhưng liệu các biện pháp này có đủ mạnh để chống lạm phát hay không, nhất là trong giai đoạn tài chánh toàn cầu vẫn chưa phục hồi như nhiều người kỳ vọng?
Mặc Lâm phỏng vấn TS Võ Trí Thành, Trưởng Ban Nghiên cứu Chính sách Hội nhập Kinh tế Toàn cầu, để biết thêm chi tiết.

Giá vàng và lạm phát

Mặc Lâm : Trước tiên xin cảm ơn Tiến sĩ Võ Trí Thành đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.
Trong ngày hôm qua giá vàng vẫn ở trên mức cao hơn rất nhiều so với giá vàng thế giới. Giá vàng cao liên tục rõ ràng là lòng tin của người dân ngày một thấp đối với nền kinh tế, theo ông thì ảnh hưởng chủ yếu của giá vàng sẽ tác động ra sao đối với vấn đề lạm phát ạ ?

TS Võ Trí Thành : Chắc chắn là có rồi, bởi vì những dự trù về hoạt động trên thị trường, dù là sản xuất kinh doanh hay là tiêu dùng, có một phần người ta tính toán để cất giữ tài sản nào đó để bảo toàn giá trị thì người ta đều tính tới yếu tố lạm phát, nhất là cái kỳ vọng lạm phát trong tương lai.

Chính vì vậy mà đây là một yếu tố mà mình cần phải làm sao dần dần tạo ra cái lòng tin vào cái khả năng của nền kinh tế vĩ mô, lòng tin vào cái sự ổn định của thị trường tài chính. Và cái này thì nó đòi hỏi phải có quyết tâm, phải nỗ lực thực tế và chính sách, và qua đó thì dần dần tạo lòng tin vào kỳ vọng là lạm phát sẽ giảm .

Mặc Lâm : Như ông cũng biết là trước tết, lãi suất ngân hàng đưa ra từ 16 tới 17 %, đã gọi là cao rồi, nhưng sau tết thì lãi suất tiếp tục được ngân hàng nâng lên tới 19, cho tới 20%.
Với lãi suất này thì hầu hết những doanh nghiệp vừa và nhỏ đều lắc đầu, không thể vay để sản xuất vì không có lãi. Theo Tiến Sĩ thì nhà nước cần có động thái gì để giải quyết bài toán lãi suất này?

TS Võ Trí Thành : Thôi, không bàn về quá khứ, chắc chắn trong bối cảnh lạm phát cao mà buộc phải có những chính sách thắt chặt, thắt chặt chính sách tiền tệ, thắt chặt chính sách tài khóa, những điều này chắc chắn có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và doanh nghiệp theo hướng là nó khó khăn hơn, và trong bối cảnh lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô còn lớn mà buộc phải thắt chặt chính sách tiền tệ, tài khóa và lãi suất khó có thể giảm được.

000_Hkg4414023-200.jpg
Một người bán hàng rong ở Hà Nội. AFP photo

Ở đây nó chỉ có một số vấn đề mang tính kỹ thuật, thứ nhất là cái tác động của lãi suất đối với từng doanh nghiệp, đối với từng khu vực kinh doanh thì nó cũng khác nhau bởi vì nó có phụ thuộc vào những yếu tố khác tạo ra cái sản lượng.

Thứ hai là cái cơ cấu vốn của từng doanh nghiệp, từng khu vực thì nó cũng khác nhau, giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay thì nó cũng khác nhau, cho nên nếu nói một cách thuần túy là lãi suất là 5 mà tôi có lợi nhuận là 5%, lãi suất là 16 mà tôi có lợi nhuận là 16% thì tôi triệt tiêu hoàn toàn cái lợi nhuận thì nó không đúng.

Chứ còn cái cách nói dân gian thì mình hiểu là khi lãi suất cao thì khó khăn là đúng rồi. Trong bối cảnh thắt chặt tiền tệ để mà chống lạm phát thì lãi suất và lạm phát kỳ vọng nó còn cao thì lãi suất khó có thể thấp được. Tuy nhiên, có thể có một số vấn đề kỹ thuật liên quan tới nội tại hệ thống ngân hàng, liên quan tới nội tại những vấn đề điều tiết, đối với thị trường tài chính, đối với ngân hàng, thì có thể vì cái nội tại ấy mà lãi suất vốn đã cao nó lại còn cao hơn nữa, thì cái này liên quan tới việc điều chỉnh, điều tiết ấy, liên quan tới cải tổ hệ thống ngân hàng.

Mặc dù vẫn biết là nó cao, nhưng vấn đề là nó không cao đến mức ấy, thì đấy cũng là những biện pháp kỹ thuật phải tính đến để phần nào nó giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp. Nhưng về tổng thể mà nói thì khi mà lạm phát cao, kỳ vọng lạm phát còn cao thì buộc phải có những chính sách thắt chặt, lãi suất không thể thấp được.

Cải cách kinh tế

Mặc Lâm : Mới đây ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, công bố với báo chí rằng mức tăng 9,3% tỷ giá mà Ngân Hàng Nhà Nước vừa đưa ra là mức hợp lý và ông Thúy xác định rằng mức này sẽ không thay đổi ít ra là trong năm 2011. Theo TS thì tuyên bố này có quá lạc quan hay không?

TS Võ Trí Thành : Tôi nghĩ là chắc ông Thúy không nói một cách chặt chẽ đến như vậy, tất nhiên là cái mong muốn, tức là sau khi có một bước phá giá tương đối lớn như vậy, nếu mà mình dần dần ổn định được lạm phát, kéo nó thấp xuống, dần dần ổn định được thị trường tài chính, thì kỳ vọng cái mức độ thay đổi trị giá như anh nghĩ đấy nó sẽ không lớn nữa nếu khó mà thay đổi, thì đấy là cái hy vọng như mong muốn, nhưng còn làm được hay không thì như tôi đã nói thì nó phụ thuộc vào cái vấn đề quyết tâm ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung những nỗ lực mạnh mẽ cho vấn đề này.

Trong lịch sử cải cách Việt Nam thì đây không phải là lần đầu, tất nhiên các điều kiện về hội nhập, điều kiện về mức độ phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam bây giờ nó khác trước, nhưng mà đây không phải là lần đầu Việt Nam đối mặt với câu chuyện là lạm phát dậy lên.

Những năm 89 rồi 91, 92, rồi những năm 97, 98 Việt Nam đã từng buộc phải phá giá ở mức độ mạnh, và cái việc kéo xuống này nó cũng đòi hỏi một thời gian nhất định, kéo xuống cái lạm phát này cũng như lòng tin vào thị trường đòi hỏi một thời gian nhất định chứ không thể là ngày một ngày hai.

Theo tôi hiểu thì cách nói của anh Thúy chắc là nó không đến cứng như vậy mà vẫn có cái độ dao động nào đấy, mà cái độ dao động ấy thì các nhà hoạch định chính sách mong muốn là khi mà mình tập trung ổn định mà mình đạt được cái ổn định kinh tế vĩ mô thì cái áp lực lên cái mất giá của đồng tiền Việt Nam nó không cao lớn nữa, rồi thì kéo dần cái khoảng cách giữa cái tỷ giá chợ đen xuống tỷ giá chính thức, thì như vậy cái điều chỉnh nó cần thiết ở trong cái mức độ đủ linh hoạt, nó không quá lớn.

Thì đấy là cái kỳ vọng. Như thế, như tôi đã nói, nó còn rất phụ thuộc vào cái việc là cái quyết tâm và cái nỗ lực để dần bình ổn lại cái kinh tế vĩ mô, kéo cái kỳ vọng lạm phát nó dần xuống.

000_Hkg3375125-200.jpg
Dãy hàng bán bún tươi tại một chợ nhỏ ở Hà Nội. AFP photo

Mặc Lâm :Theo nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng năm 2008 tình hình lạm phát của Việt Nam cũng tương tự như năm nay, nghĩa là rất đáng ngại vì lạm phát tới 2 con số,  nhưng sau đó nhà nước đã kịp thời tung gói kích cầu vào thị trường nên giảm nhẹ được tình trạng lạm phát. Tiến sĩ có cho rằng nhà nước nên lập lại động thái này trong năm 2011 nếu lạm phát không thể kềm chế bằng các chính sách tài chánh?

TS Võ Trí Thành : Theo tôi hiểu, thì chúng ta phải phân biệt hai cái khác nhau một chút. Năm 2008, đầu năm kinh tế vĩ mô rất bất ổn, rủi ro tăng lên, lạm phát tăng, và chính phủ buộc phải sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ cũng như là hạn chế chi tiêu công để kéo lạm phát xuống. Thế thì lạm phát nó lên đến đỉnh cao khoảng tháng 7, tháng 8, sau đó nó bắt đầu giảm.

Đồng thời với việc ấy vào cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra và giá cả hàng hoá trên thế giới cũng đi xuống, hàng hóa giảm rất mạnh, thì như vậy ta có thể hiểu là không phải vì chính sách kích cầu ấy kéo lạm phát xuống mà do cái bối cảnh lúc bấy giờ trong cuộc khủng hoảng ấy nó kéo xuống, về cơ bản là đúng hơn.

Chứ còn cái mà chính phủ kéo xuống dần, bắt đầu cảm nhận được từ sau 2008, mặc dù cái đỉnh nó là tháng 7, tháng 8, nhưng mà cái lạm phát giảm xuống là do một phần là cái chính sách thắt chặt chi tiêu đầu tư công cũng như là tiền tệ bắt đầu thực hiện từ khoảng tháng 4-2008. Phải phân biệt rõ hai cái giai đoạn khác nhau một chút.

Mặc Lâm : Xin cám ơn ông.

Theo RFA

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

  • Nếu chúng ta không làm thì ai sẽ làm thay cho chúng ta?

  • Nếu chúng ta không làm bây giờ thì đến khi nào?

  • Liên lạc Ban Đại Diện THTNDC qua email thtndc@gmail.com

%d bloggers like this: